Báo khói Hochiki & phân loại đầu báo khói chuẩn nhất

, , Chức năng bình luận bị tắt ở Báo khói Hochiki & phân loại đầu báo khói chuẩn nhất

 Đầu báo khói Hochiki là một trong dòng cảm ứng báo cháy được không ít người tiêu dùng tại việt nam, chiếm gần 50% tỷ lệ cảm biến báo cháy đang làm việc trong các khối hệ thống PCCC.
Báo khói Hochiki đến với người dùng bằng chất lượng & giá thành tuyên chiến đối đầu được đảm bảo bởi chính tên thương hiệu đến từ nhật bản. Báo khói Hochiki hoạt động và sinh hoạt với hiệu suất tối đa, không nhiều xảy ra lỗi, là một trong những dòng thiết bị có tầm quan trong số 1 trong cảm ứng sự cố, bắt gặp đúng chuẩn, tỉ lệ báo cháy giả rất là thấp so với khá nhiều thương hiệu khác.

==>> Tham khảo:    hochiki  

Đầu báo khói nói chung and báo khói Hochiki nói riêng, là các thiết bị dùng làm phát hiện khói, tín hiệu bắt đầu của sự cố cháy. Khi bắt gặp đc khói, các đầu báo sẽ phát tín hiệu về trung tâm báo cháy, như một thông điệp là sắp có sự cố cháy xảy ra. một trong những loại sử dụng cho gia đình thì rất có thể phát ra âm thanh báo động tại chỗ khi có cháy.

 

 


thiết bị báo cháy Hochiki – thiết bị báo cháy báo khói auto rất tốt

 

Xét về hình dáng:

Báo khói có hình dạng theo điều khoản của đơn vị phân phối, tuy nhiên thường đặt trong một vỏ nhựa hình đĩa có đư ờng kính khoảng 100 mm (4 inch) hoặc 150 mm (6 inch).

cũng như các laoij đầu báo khói khác, báo khói Hochiki cũng đều có 2 loại 2 dây and 4 dây, đc tính theo số dây 2 lõi hoặc 4 lõi nối với tủ trung tâm.

Báo khói 2 dây thường sử dụng nguồn DC24V, là đầu báo được cấp nguồn & truyền tín hiệu trên cùng 1 đôi.

Báo khói 4 dây là đầu báo đc cấp nguồn riêng với đường tín hiệu.

Độ nhạy của đầu báo khói:

Độ nhạy của đầu báo khói đc giám sát và đo lường tiêu chuẩn bởi Độ u ám và đen tối (Obscuration – Obsc hay độ đục).

Độ u ám là cảm giác mà khói làm giảm góc nhìn của của đầu dò. Độ mờ mịt càng lớn thì nồng độ hói càng nhiều.

 

 

nhấp chuột Hình ảnh để xem Bảng Báo Giá đầu báo khói cháy Hochiki

 

Theo chuẩn mức thì độ nhạy của các loại đầu báo khói như sau:

Phân loại đầu báo khói Hochiki

1.1. Đầu báo khói ion hoá (Ionization detector):

Đầu báo khói ion hoá (còn gọi là báo khói ion) sử dụng một chất đồng vị phóng xạ như Americium 241 (nguồn phát hạt alpha – α) để tạo nên sự ion hoá trong không gian.

Đầu báo khói ion có độ nhạy cao trong giai đoạn cháy rực (khói không nhìn thấy) hơn đối với đầu báo khói quang, trong khi đầu báo khói quang lại bắt gặp giỏi các đám cháy trong giai đoạn đầu âm ỉ.

Buồng thu khói (smoke chamber) hay còn gọi là buồng ion hoá (ionization chamber) có cấu tạo đặc biệt để bụi & côn trùng khó lọt vào đc, nhưng khói hoàn toàn có thể dễ dàng đi vào

Trong buồng thu khói có 1 lượng bé dại chất phóng xạ Americium 241 and 2 điện cực (hình 1.1). Chất phóng xạ sản sinh ra các ion mang điện trong không khí. Một điện thế được đặt giữa 2 điện cực tạo cho những ion di chuyển về các điện cực khác dấu tạo ra một dòng điện trong mạch của đầu báo.

Nếu có một số phần tử của khói chui vào buồng ion hoá, những ion sẽ kết hợp với các phần tử khói làm giảm dòng điện giữa 2 điện cực. Một mạnh bắt gặp sự suy giảm dòng đi ện & phát tín hiệu báo động. Ở trạng thái báo động, đèn LED trên đầu báo sẽ sáng đồng thời tín hiệu sẽ được chuyển về trung tâm báo cháy.

Đầu báo ion có giá cả sản xuất giá rẻ hơn đối với đầu báo khói quang, nhưng dễ gây ra hiện tượng báo giả, nó chỉ thích hợp với đám cháy có các hạt khói quá bé bỏng (khói không nhìn thấy được).

1.2. Đầu báo khói quang điện (Photoelectric Smoke Detector):

Đầu báo khói quang điện hay còn gọi là Phòng cháy Thăng Long thiết bị báo cháy hochiki is packed with essential features  đầu báo khói quang bao gồm một nguồn sáng nhỏ tuổi (LED phát hồng ngoại), một thấu kính hội tụ ánh sáng thành chùm tia và một cảm ứng quang điện (photoelectric hoặc photodiode) đặt lệch góc với chùm tia hồng ngoại.

Tất cả những bộ phận bên trên đây đc đặt trong một buồng quang học (optical chamber) hay nói một cách khác là buồng khói. Hình 1.2 miêu tả kết cấu căn bản của đầu báo khói quang.

Buồng quang học (1) có cấu tạo đặc trưng để ánh sáng bên ngòai không thể lọt vào được, nhưng khói có thể dễ dàng đi vào. phía bên ngoài của buồng quang học có một lớp lưới để ngăn bụi & côn trùng chui vào phía bên trong.

Trong tình huống bình thường (không có khói), chùm tia sáng được tạo nên từ đèn

phát hồng ngoại (5) đi theo đường thẳng không đến được đầu cảm ứng quang (4).

Khi có khói vào bên phía trong buồng quang học ngang qua đường đi của chùm tia hồng ngoại, một số trong những tia sáng bị khuyếch tán bởi các hạt khói đi đến đầu cảm ứng quang (4) và kích hoạt báo động. Khi đó, mạch điện sẽ chuyển tín hiệu hồng ngọai (quang) thành tín hiệu điện (báo động). Ở trạng thái báo động, đèn LED bên trên đầu báo sẽ sáng đồng thời tín hiệu sẽ đc truyền về tủ báo cháy.

Đầu báo khói quang bắt gặp xuất sắc đám cháy âm ỉ. Đầu báo khói quang phản ứng chậm hơn đầu báo ion với đám cháy bùng phát nhanh, nhưng thí điểm và phân tích cho thấy đầu báo khói quang đáp ứng đc tất cả các loại cháy & có tuổi thọ cao hơn.

ngày này, một vài đầu báo khói quang tân tiến có độ nhạy không hề nhỏ, bao trùm phạm vi của đầu báo khói ion & có thể thay thế sửa chữa trọn vẹn cho đầu báo ion. rõ ràng đầu báo khói của Hochiki có độ nhạy từ 0.5-3.8%/ft, trong lúc độ nhạy tiêu chuẩn của đầu báo ion là 0.8–1.5% obs/ft and của đầu báo quang là 2–4% obs/ft.

đối chiếu giữa đầu báo khói quang & báo ion

Đầu báo quang điện phục vụ nhanh hơn (thường là 30 phút hoặc hơn) trong giai đoạn âm ỉ trước lúc thành ngọn lửa. Khói trong giai đoạn âm ỉ thường tạo thành các hạt đốt lớn giữa 0.3 and 10 micron.

Đầu báo ion hoá đáp ứng nhanh hơn (thường là 30-60 giây) trong giai đoạn lửa bùng cháy rực rỡ (rực lửa). Khói trong giai đoạn rực lửa thường tạo ra những hạt đốt nhỏ – giữa 0.01 và 0.3 micron.

Ngoài ra đầu báo ion hoá hoạt động yếu trong môi trường xung quanh có luồng gió mạnh, và vì đi ều này đầu báo quang điện là tin yêu hơn để phát hiện khói trong cả 2 trường hợp cháy âm ỉ & cháy rực lửa.

Tháng 6/2006, Australasian Fire & Emergency Service Authorities Council, cơ quan đại diện thay mặt tối đa cho những tổ chức cứu hoả Australia & New Zealand tuyên bố: “báo khói ion hóa không còn sinh hoạt trong khoảng time để lưu ý đủ sớm cho tất cả những người cư ngụ thoát khỏi đám cháy âm ỉ”

Đầu ion phát hiện giỏi đám cháy không tồn tại khói (khói không nhìn thấy được)

Sự hiện diện của chất phóng xạ Americium-241 trong đầu báo ion hoá, có nghĩa rằng tất cả những đầu báo khi hết thời gian hoạt hoạt động phải đc xử lý để tránh tạo thành mối gian nguy đối với môi trường thiên nhiên. một trong những nước đã cấm sử dụng đầu báo khói ion.

Đầu báo khói quang đơn giản dễ dàng trong công việc sửa chữa bảo trì, đ ầu báo ion có chất phóng xạ nên không thể mở buồng ion để vệ sinh, thay thế được.

Đầu ion sẽ báo gỉa nếu được lắp đặt tại nơi có luồng khí mạnh thổi qua.

Đầu báo khói quang có tuổi thọ cao hơn đầu báo khói ion.

1.3. Đầu báo khói quang dạng tia (Projected Beam Detector)

các đầu báo như mô tả ở phần bên trên gọi là đầu báo khói điểm (spot detector).

Với Quanh Vùng bảo đảm có diện tích lớn, trần cao nơi mà đầu báo khói điểm khó lắp đặt & duy trì, ví dụ như phòng t ập thể dục, giảng đường sẽ dùng đầu báo khói quang dạng tia (đầu báo beam). Có 2 loại đầu báo khói tia: loại thu – phát và loại phản xạ.

Đầu báo khói tia loại thu – phát: gồm một đầu phát (T) và một đầu thu (R) hồng ngoại hiếm hoi lắp đối diện với nhau trong khoanh vùng cần bảo đảm an toàn.

Đầu báo khói tia loại phản xạ: gồm 1 đầu báo phối kết hợp phần tử phát và bộ phận thu trong cùng một vỏ và tấm phản xạ lắp đối diện với đầu báo trong khoanh vùng cần đảm bảo an toàn.

Chiều dài đảm bảo của đầu beam là khoảng cách giữa đầu thu và đầu phát, hoặc giữa đầu báo và tấm phản xạ.

Đầu báo beam hoạt động dựa bên trên nguyên tắc làm mờ ánh sáng (light obscuration). Ở ĐK môi trường thiên nhiên sạch, không có khói, chùm tia hồng ngoại từ đầu phát (Transmiter) sẽ đến bộ phận cảm nhận ánh sáng đặt tại đầu thu (Reveiver) với cùng một cường độ 100%. điều đó được hiểu là độ làm mờ 0%, nói một các khác toàn bộ tia hồng ngoại đến đc đầu thu.

Đầu báo beam đc điều chỉnh độ nhạy theo mức đc tùy chỉnh cấu hình sẵn, tính theo tỷ lệ phần trăm của độ che mờ hoàn toàn chùm tia chứ không phải theo xác suất hiện diện (nồng độ) của khói. Mức độ nhạy này, đc định vị bởi nhà phân phối, tùy theo chiều dài bảo đảm của đầu báo. Ví dụ: Khi đặt đầu báo có độ nhạy 25%, có nghĩa là khi 25% tín hiệu của tia bị làm mờ bởi khói, đầu báo sẽ chuyển qua tình trạng báo động.

Khi có cháy, khói từ đám cháy bay lên đi vào khoanh vùng đảm bảo an toàn, cắt ngang đường hồng ngoại của đầu báo sẽ khiến suy giảm tín hiệu hồng ngọai tới đầu thu. Khi độ làm mờ đạt tới mức ngưỡng báo động đc đặt trước, đầu báo sẽ phát một tín hiệu báo động cháy.

Nếu đầu thu hoàn toàn không nhận được tia hồng ngọai (đầu phát bị hư, hoặc đứt dây, hoặc tia hồng ngọai bị che khuất 100%,…) đầu báo sẽ phát tín hiệu báo lỗi (trouble) để tránh báo giả.

 

Sự đổi khác chậm của độ che mờ xảy ra, do bẩn hoặc bụi bên trên thấu kính của đầu báo, sẽ được bù trừ bởi một mạch vi tinh chỉnh với chức năng đo lường và thống kê liên tiếp cường độ tín hiệu & định kỳ hiệu chỉnh ngưỡng báo động và báo lỗi. Khi mạch tự bù trừ của đầu báo đạt đến ngưỡng giới hạn của chính nó, đầu báo sẽ phát tín hiệu báo lỗi, dấu hiệu yêu cầu dịch vụ duy trì.

 

khoảng cách bảo vệ của đầu beam từ vài mét đến 100 mét (hoặc nhiều hơn, tuỳ thuộc vào nhà sản xuất), do vậy đầu báo dạng beam rất thích hợp để đảm bảo ở các nơi có diện tích S lớn, góc nhìn không trở nên che khuất.

 

Theo NFPA72, đầu báo beam có thể bảo vệ một diện tích S có chiều dài tối đa 100 m (330 ft) và khoảng cách theo chiều ngang (với tia hồng ngoại ở giữa) cao nhất 18 m (60 ft), tương đương 1,800 mét vuông (19,800 sqft), trong khi đầu khói điểm có diện tích đảm bảo an toàn cao nhất 83m2 (900 sqft).

 

Theo BS5839 part 1: Đầu khói điểm có đường kính đảm bảo tối đa 7.5 m, khoảng cách tối đa giữa 2 đầu báo là 10.5 m tương đương diện tích 110.25m2. Đầu báo beam cho phép đảm bảo an toàn một diện tích S có chiều dài cao nhất 100 m & chiều ngang (với tia hồng ngoại ở giữa) tối đa 15m, tương đương diện tích S đảm bảo 1,500 m2.

1.4. Đầu báo khói lắp trên đường ống – Duct smoke detector

 

Đầu báo Duct cung cấp bản lĩnh bắt gặp sớm khói and sản phẩm cháy có trong không khí dịch rời theo đường ống của hệ thống HVAC (HVAC là chữ viết tắt tiếng Anh của: H = Heating – khối hệ thống sưởi ấm; V = Ventilation – hệ thống thông gió; AC = Air Conditioning – hệ thống điều hòa không khí).

Có 2 ống nhỏ tuổi đc lắp nhô vào phía bên trong đường ống của khối hệ thống HVAC, một ống có các lỗ khoan theo chiều dọc lắp ngược hướng dòng khí hoạt động để thu không gian đưa vào đầu báo Duct được gọi là ống lấy mẫu (Sampling Tube), một ống còn sót lại đưa không gian ra khỏi đầu báo (Exhaust Tube).

 

Một đầu báo khói lắp phía bên trong đầu duct có nghĩa vụ bắt gặp khói and phát tín hiệu báo động về trung tâm báo cháy hoặc trải qua những relay tinh chỉnh các lá chắn (Damper) của khối hệ thống HVAC hoặc các dòng thiết bị khác.

1.5. Đầu báo khói độ nhạy cao – Aspirating Smoke Detector hoặc Air Sampling Detechtor (ASD)

Đầu báo khói độ nhạy cao – ASD hay nói một cách khác là VESDA dùng cho các Quanh Vùng quan trọng yên cầu báo cháy có độ nhạy rất cao, nơi mà nguồn lửa rất khó phát hiện, yêu cầu chỉ một lượng khói rất mỏng manh phải đc bắt gặp ngay.

Một khối hệ thống ASD bao gồm 1 dòng thiết bị dò khói trung tâm có công dụng lôi cuốn không gian bằng máy hút khí and một mạng ống bé dại lắp trong khu vực cần bảo đảm. những lỗ mẫu (Sampling Point) đc khoan vào mỗi ống trong theo khoảng cách tương thích. không gian tiếp nối liên tiếp bị hút vào hệ thống đường ống thông qua những lỗ, hướng tới thiết bị dò trung tâm để phân tích và kiểm tra.

Khác với những đầu báo khói thường thì là dòng thụ động, hệ thống ASD nghiên cứu và phân tích không khí trong time thực & thuộc loại chủ động. xây đắp của ASD có thể chấp nhận được tích lũy mẫu không gian / khói trải qua hệ thống đường ống & dẫn về bộ cảm ứng trung tâm.

Độ nhạy cao cùng với chủ động tích lũy mẫu khói cho phép bắt gặp cháy ở giai đoạn rất sớm. điều này cực kỳ cần thiết trong những tình huống môi trường thiên nhiên có ngóc ngách làm loãng khói và che khuất bao quanh.

Nguồn: Tổng hợp trên mạng